Phép thuật thời cổ đại: Năm bản thảo kỳ lạ về thần chú, lời nguyền

0
1439
phép thuật thời cổ đại
Một người đang cầm cuốn sách ma thuật cổ đại. (Abovetopsecret.com)

Phép thuật thời cổ đại là lĩnh vực huyền bí thu hút giới khảo cổ nói riêng, khoa học nói chung về thế giới tâm linh đầy bí ẩn xưa kia.

Khi con người tin vào dạng quyền lực cao hơn, việc sử dụng ma thuật, phép thuật, lời nguyền hay những câu thần chú là khá phổ biến đối với các nền văn hóa cổ đại Một số văn bản gây ảnh hưởng thời bấy giờ hoặc còn gọi là ‘Grimoires’ (sách phép thuật) đã được phát triển qua nhiều thế kỷ, nhiều trong số đó đã trở thành những cuốn sách của nhiều xã hội và các tổ chức bí mật huyền bí duy trì sự tồn tại cho đến tận thế kỷ XX. Dưới đây là năm bản thảo mở ra cánh cổng kỳ diệu vào thế giới phép thuật của người xưa.

Cuốn sách Abramelin the Mage

phép thuật thời cổ đại

Cuốn sách được viết dưới dạng thơ hay tự truyện của một người được biết đến là Abraham tại xứ Worms. Abraham người Do Thái gốc Đức sống giữa thế kỷ 14 và 15. Cuốn sách Abramelin the Mage kể về việc Abraham truyền những phép thuật và kiến ​​thức ma thuật Kabbalistic cho con trai mình là Lamech, kể về lần đầu tiên ông học những kiến ​​thức như vậy.

Abraham kể về cái chết của cha mình, người đã giúp ông có “sự hướng dẫn về những cách thức cần thiết để học thuật huyền bí Qabalah” ngay trước khi qua đời. Với mong muốn học những phép thuật này, Abraham cho biết ông đã đến Mayence (Mainz) để học theo một thầy tên là Moses. Abraham học theo Moses trong vòng bốn năm trước khi đi hành hương trong sáu năm tiếp theo và cuối cùng ông đến Ai Cập.

Ai Cập là nơi Abraham đã gặp pháp sư Abramelin, một vị pháp sư Ai Cập sống trong sa mạc bên ngoài thành phố Arachi hoặc Araki. Người ta nói rằng Abramelin sau đó đã dạy Abraham phép thuật Kabbalistic và đưa cho ông hai bản thảo để sao chép lại. Những điểm nổi bật của cuốn sách phép thuật này là một nghi lễ phức tạp được gọi là “Abramelin Operation”, trong đó giúp một pháp sư đạt được “những kiến thức và có thể đàm đạo” với “thiên thần hộ mệnh” của mình và tránh được ma quỷ. Bản thảo này sau đó được sử dụng trong các tổ chức huyền bí như Hermetic Order of the Golden Dawn và Aleister Crowley’s mystical system of Thelema.

Là một phần của một bộ sưu tập được biết đến với cái tên Lesser Keys of Solomon, Ars Notoria là một cuốn sách phép thuật cho phép người học đạt đến trình độ cao, giúp họ có thể hùng biện tốt hơn, sở hữu một trí nhớ hoàn hảo và sự khôn ngoan.

minhbao.net-phep-thuat-thoi-co-dai (2)

Cuốn Ars Notoria là một trong năm cuốn sách phép thuật gọi là Lesser Keys của Solomon, một cuốn sách vô danh đã được biên dịch từ các công trình khác trong thế kỷ 17, và tập trung vào nghiên cứu ma quỷ.

The Ars Notoria là phần cổ nhất của cuốn sách phép thuật Lesser of the Keys có niên đại từ thế kỷ thứ 13. Tuy nhiên, các lời văn trong đó là một tập hợp các bài diễn văn, các lời cầu nguyện, và ngôn ngữ phép thuật ở thời kỳ những năm 1200. Những lời cầu nguyện được viết bằng nhiều ngôn ngữ, bao gồm tiếng Do Thái, Hy Lạp và Latin. Đây không phải là một cuốn sách phép thuật mà là một cuốn sách cầu nguyện và các bài diễn văn giúp tăng cường và tập trung sức mạnh tinh thần của con người bằng cách khẩn cầu thần linh ban tặng cho họ trí tuệ. Trong số những món quà trí tuệ đó tồn tại một khái niệm gọi là “trí nhớ hoàn hảo.”

Những người làm nghệ thuật tự do chẳng hạn như số học, hình học và triết học được hứa hẹn ban tặng sự tinh thông về lĩnh vực của họ nếu họ học theo Ars Notoria. Trong đó, nó mô tả các quá trình hàng ngày về sự trực quan, chiêm nghiệm, và những bài thuyết giảng nhằm tăng cường sự tập trung và trí nhớ của người học.

Pseudomonarchia Daemonum, còn được gọi là Hierarchy False of Demons,

minhbao.net-phep-thuat-thoi-co-dai (3)

Đây là một bản tóm có tiếng từ thế kỷ 16 nêu tên của 69 con quỷ. Danh sách này ban đầu là phụ lục cho một cuốn sách nghiên cứu về ma quỷ và phù thủy của tác giả Johann Weyer. Johann Weyer sinh ra ở Hà Lan vào 1515, là con trai của một thương gia, một bác sĩ người Hà Lan theo học những pháp thuật huyền bí này. Thông thạo tiếng Latin từ khi còn nhỏ nên Weyer nhanh chóng trở thành một sinh viên của Heinrich Cornelius Agrippa, một ảo thuật gia nổi tiếng, nhà thần học, và huyền bí học ở Antwerp.

Dường như niềm đam mê phép thuật với Weyer bắt đầu khi làm việc cho Agippa, nhưng sau đó ông đã tách ra. Ông về sau bị triệu tập đến phiên tòa để tư vấn cho các thẩm phán về một vấn đề liên quan đến chuyên môn của mình. Trường hợp này bắt đầu khiến ông quan tâm nghiên cứu cuộc sống của các phù thủy, nhằm cố gắng bảo vệ những người này khỏi bị cáo buộc khi hành nghề. 27 năm sau, khi Weyer 62 tuổi, ông đã xuất bản cuốn Pseudomonarchia Daemonum.

Việc Weyer tuyên bố rằng trong khi quỷ và những con quái vật dưới địa ngục có sức mạnh phép thuật hơn con người, những người bị ảnh hưởng lại không phải là những phù thủy giả – theo Weyer gọi là “bệnh tâm thần”, mà chính là các thầy phù thủy – những người dùng thủ đoạn lừa đảo chỉ để lừa tiền người ta. Ý định của Weyer là tạo ra một niềm tin để bào chữa cho các bị cáo mà trên thực tế những người này vô tội. Không rõ Weyer đã nỗ lực thế nào, nhưng có bằng chứng cho thấy ông đã không thành công.

The Picatrix là một cuốn sách Ả Rập cổ đại về chiêm tinh học và những phép thuật huyền bí có niên đại từ thế kỷ thứ 10 hay 11, nổi tiếng vì những công thức phép thuật huyền diệu của nó. Picatrix giới thiệu về thuật chiêm tinh đầy bí ẩn của nó và những phép thuật để đạt được mong muốn của con người, được dịch và sử dụng bởi nhiều nền văn hóa qua các thế kỷ từ khắp nơi trên thế giới.

The Picatrix ban đầu được viết bằng tiếng Ả Rập, có tiêu đề Ghāyat al-Hakim, nghĩa là “Mục tiêu của Sage” hoặc “Mục tiêu của Wise”. Hầu hết các học giả tin rằng nó có nguồn gốc từ thế kỷ thứ 11, mặc dù có những nguồn khác cho rằng nó có từ thế kỷ 10. Sau cùng, các tác phẩm Ả Rập này đã được dịch sang tiếng Tây Ban Nha và sau đó sang tiếng Latinh trong năm 1256 dưới thời vua Alfonso Castilian the Wise. Ngày nay nó mang tên là Latin title Picatrix.

Các văn bản này bao gồm cả phép thuật và chiêm tinh học. Một yếu tố góp phần vào sự nổi tiếng của Picatrix là những công thức huyền diệu của nó. Các công thức này nhắm vào thay đổi trạng thái ý thức con người và có thể dẫn đến những hành động ngoài kiểm soát hay thậm chí tử vong. Các thành phần pha chế bao gồm: máu, các chất bài tiết của cơ thể, các tế bào não trộn với một lượng dư hashish, thuốc phiện, cây thần. Ví dụ, phép thuật để “Tạo ra sự thù địch và bất hòa” có công thức:

“Lấy 04 ounce máu của một con chó đen, 02 ounces máu và não lợn, và 01 ounce não con lừa. Trộn tất cả những thứ này lại với nhau cho đến khi chúng tan hoàn toàn. Khi bạn đưa loại thuốc này cho một người nào đó vào thức ăn hoặc đồ uống thì sau đó anh ta sẽ ghét bạn”.

The Arbatel de magia veterum (Arbatel: Of the Magic of the Ancients) là một cuốn sách ma thuật về sự tái sinh và đây là một trong những công trình có ảnh hưởng lớn nhất. Không giống như một số bản thảo huyền bí khác chứa những ma thuật đen tối và các phép thuật tàn độc, Arbatel viết về lời khuyên tâm linh và hướng dẫn con người sống một cuộc sống trung thực để được kính trọng.

Arbatel theo đánh giá có thể ra đời vào năm 1575 sau Công nguyên. Đến nay vẫn chưa rõ tác giả là ai, mặc dù người ta suy đoán rằng nó đã được viết bởi một người đàn ông tên là Jacques Gohory, một Paracelsian (một nhóm người tin và theo những học thuyết y tế và phương pháp điều trị của Paracelsus).

Arbatel tập trung vào thiên nhiên, các mối quan hệ tự nhiên giữa con người và tự nhiên. Nó tập trung vào các mối quan hệ tích cực giữa thế giới thiên nhiên và con người, và sự tương tác giữa hai người. Arbatel có sức ảnh hưởng rất lớn khi nó ra đời.

Biên dịch từ Ancient Origins
Facebook Comments

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

*