Phát hiện đáng sợ ở núi Owen

0
709
Bàn chân con Moa được bảo quản, trưng bày tại Viện Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên (Wikimedia Commons)
Bàn chân con Moa được bảo quản, trưng bày tại Viện Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên (Wikimedia Commons)
Gần 3 thập kỷ trước, nhóm khảo cổ đã tình cờ gặp một vật thể đáng sợ và bất thường khi đang thám hiểm hệ thống hang động lớn trên núi Owen ở New Zealand. Do không gian u ám thiếu ánh sáng trong hang động, họ cứ ngờ đang bị ảo giác, vì không thể hiểu được cái gì đang nằm trước mắt mình: đó là một bộ móng vuốt khổng lồ như của khủng long, nhưng vẫn còn nguyên vẹn với thịt và da bị bong tróc. Bộ móng vuốt được bảo quản rất tốt, chứng tỏ nó là của một động vật chỉ mới chết rất gần đó.

Nhóm nghiên cứu khảo cổ háo hức lấy bộ móng vuốt đó để phân tích. Kết quả thật đáng kinh ngạc: đó là những gì còn lại từ xác ướp 3.300 tuổi của một con Moa vùng cao – một loài chim tiền sử lớn được tin đã bị tuyệt chủng từ nhiều thế kỷ trước đó.

Moa vùng cao (Megalapteryx didinus) là loài chim đặc hữu của New Zealand. Một phân tích DNA được công bố trong Kỷ yếu của Viện Hàn lâm Khoa học cho rằng con Moa đầu tiên xuất hiện khoảng 18,5 triệu năm trước và có ít nhất 10 loài, nhưng chúng đã bị xóa sổ rất nhanh chòng.

Với một số phân loài đạt trên 3 mét chiều cao, Moa từng là loài chim lớn nhất trên hành tinh. Tuy nhiên, Moa vùng cao – một trong những phân nhánh có kích thước nhỏ nhất trong các loài Moa – chỉ có chiều cao không quá 1,3m. Nó có lông bao phủ toàn bộ cơ thể ngoại trừ mỏ và lòng bàn chân, không có cánh và đuôi. Như tên gọi, Moa vùng cao sống ở các vùng cao hơn và mát hơn của New Zealand.

Tranh vẽ Moa vùng cao (trái) và dấu chân của Moa phát hiện năm năm 1911. (Wikimedia Commons)
Tranh vẽ Moa vùng cao (trái) và dấu chân của Moa phát hiện năm năm 1911. (Wikimedia Commons)
Phát hiện loài Moa

Khám phá đầu tiên về Moa là năm 1839, khi John W. Harris, một nhà kinh doanh lanh và đam mê lịch sử tự nhiên, đã được thành viên bộ lạc thổ dân Māori đưa cho hóa thạch xương rất lạ lùng. Người thổ dân cho biết đã tìm thấy nó tại bờ sông. Hóa thạch được gửi tới Sir Richard Owen, người làm việc tại Bảo tàng Hunterian thuộc Royal College of Surgeons ở London. Owen đã phải đau đầu với bộ xương đó suốt 4 năm, vì nó không phù hợp với bất cứ bộ xương của loài nào ông từng biết.

Cuối cùng, Owen đi đến kết luận rằng bộ xương thuộc về một con chim khổng lồ hoàn toàn chưa được biết đến. Cộng đồng khoa học chế nhạo thuyết của Owen, nhưng sau đó điều này được chứng minh là đúng với những khám phá của nhiều mẫu xương cho phép tái thiết hoàn toàn bộ xương Moa.

Ngài Richard Owen đứng bên bộ xương Moa được khám phá đầu tiên. (Wikimedia Commons)
Ngài Richard Owen đứng bên bộ xương Moa được khám phá đầu tiên. (Wikimedia Commons)

Kể từ khi bộ xương Moa đầu tiên được phát hiện, người ta đã tìm thêm hàng ngàn bộ khác, cùng với một số xác ướp đáng kể, chẳng hạn như bộ móng vuốt rất dễ sợ ở núi Owen. Một số mẫu vẫn còn mô mềm với cơ bắp, da, và thậm chí cả lông. Hầu hết những hóa thạch đã được tìm thấy trong các cồn cát, đầm lầy, và hang động, nơi đàn chim có thể về tổ hoặc nhằm chạy trốn thời tiết xấu. Xác con chim đã được bảo quản nhờ thời tiết khô hanh của khu vực tự nhiên (ví dụ, một hang động có làn gió khô thổi qua thường xuyên).

Một cái đầu Moa vùng cao được bảo quản. (Wikimedia Commons)
Một cái đầu Moa vùng cao được bảo quản. (Wikimedia Commons)
Tuyệt chủng

Khi người Polynesia đầu tiên di cư đến New Zealand vào giữa thế kỷ 13, loài Moa vẫn còn rất đông đúc. Chúng là những động vật ăn cỏ chiếm ưu thế trong rừng, vùng cây bụi của New Zealand, các hệ sinh thái phụ trên núi cao từ hàng ngàn năm, và chỉ có một thiên địch là loài đại bàng săn mồi Haast. Tuy nhiên, khi những người đầu tiên đặt chân lên đất New Zealand, Moa nhanh chóng đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng do săn bắt quá mức và phá hủy môi trường sống.

“Loài này trưởng thành rất chậm, nên không có khả năng tái tạo một cách nhanh chóng đủ để duy trì số lượng khiến chúng dễ bị tuyệt chủng” – Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên London viết. “Tất cả các loài Moa đã tuyệt chủng khi người châu Âu đến New Zealand vào những năm 1760. Điều này dẫn đến sự tuyệt chủng của đại bàng Haast sau đó, vì không còn Moa để ăn”.

Tranh vẽ đại bàng Haasts tấn công Moa. (Wikimedia Commons)
Tranh vẽ đại bàng Haasts tấn công Moa. (Wikimedia Commons)
Hồi sinh?

Moa đã thường xuyên được nhắc đến như một ứng viên có thể hồi sinh bằng cách nhân bản từ nhiều mẫu vật được bảo quản tốt, trích xuất được DNA. Hơn nữa, vì nó chỉ tuyệt chủng cách đây vài thế kỷ, nhiều loài cây là thức ăn cho Moa vẫn còn.

Nhà di truyền học Nhật Bản Ankoh Yasuyuki Shirota đã thực hiện sơ bộ mục tiêu này bằng cách chiết ADN từ hài cốt Moa mà ông có kế hoạch đưa vào phôi gà. Quan tâm đến sự hồi sinh loài chim cổ đại nhận được nhiều ủng hộ hơn vào giữa năm nay khi Trevor Mallard, một thành viên trong Quốc hội New Zealand, cho rằng việc làm sống lại Moa trong 50 năm sau là một ý tưởng khả thi.

Biên dịch từ Epoch Times

Facebook Comments

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

*