Lỗ hổng thời gian

122

Những trường hợp được cho là bị lỗ hổng thời gian đưa đến tương lai.

Máy bay biến mất, xuất hiện trở lại sau 10 phút

Khoảng 40 năm trước, một máy bay chở khách được cho là đã biến mất trong lúc hạ cánh xuống Sân bay Quốc gia (hiện nay gọi là Sân bay Quốc gia Ronald Reagan Washington).

Đội cứu hộ khẩn cấp đã nhanh chóng được huy động, và giả thuyết ban đầu được đưa ra là chiếc máy bay đã đi chệch lộ trình và bị rơi gần khu vực sân bay. Khi các phương tiện xe cấp cứu di chuyển trên đường băng nơi chiếc máy bay được nhìn thấy lần cuối, thì nó đột nhiên xuất hiện trở lại ngay phía trên đầu.

Mười phút trôi qua, và chiếc máy bay đột nhiên xuất hiện trở lại tại đúng vị trí nó từng biến mất. Đồng hồ trên máy bay, bao gồm cả đồng hồ đeo tay của hành khách, tất cả đều bị chậm lại 10 phút. Đối với những người trên máy bay, 10 phút đó chưa từng trôi qua. Khi họ nhìn xuống đường băng lúc máy bay hạ cánh, đối với họ dường như một nhóm các phương tiện xe cấp cứu đã đột nhiên xuất hiện.

Nguồn: https://goo.gl/LpkIsh

Sự trở về của thuyền trưởng Smith

Ngày 09/08/1991, một tổ khảo sát khoa học hải dương trong khi khảo sát tại khu vực phía tây nam cách một núi băng Bắc Đại Tây Dương chừng 387 km, đã phát hiện và cứu sống một người đàn ông 60 tuổi. Lúc đó người đàn ông này đang ngồi bình thản bên rìa nước. Ông ta mặc bộ quần áo màu trắng, khá gọn gàng, rít sâu điếu thuốc và rút điếu thứ hai, mắt nhìn về phía biển khơi, mặt lộ vẻ dạn dày sương gió. Không ai có thể nghĩ rằng đó chính là thuyền trưởng danh tiếng Smith của con tàu Titanic.

Nhà hải dương học nổi tiếng, tiến sĩ Marwen Halant, sau khi cứu được Smith đã phát biểu trước báo chí rằng không thể có sự việc nào đáng kinh ngạc hơn. Người đàn ông này không thể là tên lừa đảo, ông ta đích thực là thuyền trưởng của con tàu Titanic, người cuối cùng cùng với con tàu chìm xuống biển. Khó tin hơn nữa là Smith đến nay đã 140 tuổi nhưng trên thực tế mới chỉ là một ông già 60. Khi được cứu, ông một mực khẳng định rằng hôm đó là ngày 15/09/1912

Sau khi được cứu, ông được đưa đến Viện tâm thần Oslo (Nauy) để chữa trị. Nhà tâm lý học Jale Halant đã tiến hành hàng loạt thử nghiệm và kết quả là Smith hoàn toàn bình thường. Ngày 18/09/1991, trong một đoạn tin vắn, Halant khẳng định người được cứu đích xác là thuyền trưởng Smith vì ngay việc đối chiếu vân tay cũng đã cho thấy điều đó.

Smith - thuyền trưởng tầu Titanic
Smith – thuyền trưởng tầu Titanic

Sự việc cần được giải thích rõ ràng. Một số cơ quan hải dương Âu – Mỹ cho rằng thuyền trưởng Smith đã bị rơi vào “hiện tượng mất tích – tái hiện xuyên thời gian”. Theo đó, một số chuyên gia phán đoán có khả năng trên biển vẫn còn một số hành khách Titanic sống sót đang chờ được cứu giúp, vì trong lịch sử cũng đã có không ít trường hợp mất tích – tái hiện một cách thần bí.

Sự mất tích của 25 lính hải quân Mỹ

Theo hồ sơ của bộ hải quân Mỹ, trong chiến dịch Thái Bình Dương thời kỳ chiến tranh thế giới thứ 2, chiến hạm Indiana Bolis của Mỹ bị tàu ngầm của Nhật đánh chìm.

Lúc đó, hải quân Mỹ đã thu được tín hiệu cấp cứu của 25 binh lính và sĩ quan rời khỏi chiến hạm bằng thuyền cứu hộ. Nhưng sau nhiều lần tìm kiếm, 25 quân nhân kia vẫn bặt vô âm tín. Cuối cùng, nhà chức trách đành phải tuyên bố họ đã mất tích.

Nhưng sau nhiều lần tìm kiếm, 25 quân nhân kia vẫn bặt vô âm tín. Cuối cùng, nhà chức trách đành phải tuyên bố họ đã mất tích. Nhưng một ngày tháng 07/1991, một đội thuyền đánh cá của Philippines trên hải phận Sibis, phía nam quần đảo Philippines, đột nhiên phát hiện một chiếc thuyền cứu sinh, trên thuyền có 25 binh lính đang trong tâm trạng hoảng loạn, dù cơ thể vẫn còn cường tráng.

Phát hiện này làm cho các nhà chức trách Mỹ vô cùng kinh ngạc. Điều khó hiểu hơn cả là chiến hạm Indiana Bolis bị đánh chìm từ năm 1945, và mãi 46 năm sau đó, người ta mới thấy họ, nhưng họ không hề thay đổi so với trước kia, thậm chí cả râu, tóc… cũng không dài thêm chút nào. 25 người một mực khẳng định họ chỉ lênh đênh trên biển một ngày đêm.

Nhà thiên văn học, tiến sĩ Semesijians cho rằng, có khả năng họ đã bị rơi vào “lỗ hổng của thời gian”

Chiếc khinh khí cầu của Hary

Năm 1954, trong một cuộc thi biểu diễn khinh khí cầu, chiếc khí cầu của Hary Rogen và Derick Noidon đột nhiên mất tích. Sau nhiều năm tìm kiếm họ vẫn không tìm thấy xác chiếc khinh khí cầu bị rơi. Kỳ lạ là năm 1990, trong một cuộc thi khinh khí cầu khác tại Cuba, chiếc khinh khí cầu mất tích 36 năm về trước đột nhiên xuất hiện tại nơi mà nó đã mất tích năm 1954 trước hàng nghìn con mắt kinh ngạc của khán giả.

Khi đó người Cuba cho rằng đây là vũ khí bí mật của Mỹ nên đã cho máy bay bắn hạ khí cầu, còn Rogen và Derick thì bị đưa đến một căn cứ quân sự. Tại đây, họ khai rằng trong cuộc thi khinh khí cầu năm 1954 tại Bodorigo Saint Juan, họ đột nhiên bị kích thích vào vùng não, toàn thân đau buốt như có một luồng điện chạy qua người. Tất cả mọi thứ xung quanh từ bầu trời cho đến mặt biển đều biến thành một màu đỏ. Việc tiếp theo mà họ cảm nhận được là bị một chiếc máy bay chiến đấu tấn công. Họ không hề biết chỉ trong khoảng khắc màu đỏ ấy mà thời gian đã trôi qua 36 năm.

Một đôi vợ chồng đã “bay” từ Argentina sang Mexico trên… xe hơi như thế nào?

Đêm ngày 1/6/1968, hai chiếc xe hơi sang trọng lướt nhanh qua thủ đô Buenos Aires – Argentina. Trong màn sương đêm dày đặc, hai chiếc xe đang chạy như bay trên con đường độc đáo xuyên qua một cánh đồng lúa mạch. Ngồi trên chiếc xe đi sau là luật sư Garalder ở Buenos Aires và vợ ông, bà Rafield. Phía trước là xe hai vợ chồng người bạn của ông. Không hiểu do tốc độ chiếc xe phía trước đi quá nhanh hay chiếc xe của hai vợ chồng luật sư Garalder bị hỏng máy nên khoảng cách giữa hai xe ngày càng xa.

Khi chiếc xe thứ nhất đến gần ngoại ô của thành phố Chascomus, 2 người ngoảnh đầu nhìn lại chỉ thấy 1 hố đen sâu thẳm, ngoài màn sương đêm mù mịt họ chẳng thấy bất cứ 1 thứ gì hết. Họ quyết định dừng xe và đợi 2 vợ chồng luật sư – tiến sĩ Garalder. 30 phút rồi 1 tiếng trôi qua, đằng sau vẫn chỉ là một màn sương vô tận, trên mặt đường họ không hề nghe thấy bất kì một âm thanh nào vọng lại. Hơi chút hoảng hốt, họ quay xe lại tìm. Nhưng trên đường, họ không hề gặp một chiếc xe nào đi ngược chiều hay đỗ ở cạnh đường, ngay cả mảnh vỡ của một chiếc xe gặp tai nạn cũng không hề thấy. Có thể nói, chiếc xe của hai vợ chồng tiến sĩ Garalder đã mất tích một cách bí ẩn.

Người ta có thể bị đẩy vào một chiều không gian khác???

Từ khi 2 vợ chồng họ mất tích, bạn bè người thân đã cố xông đi tìm kiếm khắp các khu vực giữa Buenos Aires và thành phố Chascomus nhưng kết quả sớm làm họ thất vọng. Hai bên đường, ngay cả bóng dáng của một chiếc xe hay dấu hiệu của một vụ tai nạn cũng không có.

Điều kỳ lạ là 2 ngày sau khi họ quyết định báo cho cảnh sát địa phương thì cũng là lúc họ nhận được một cú điện thoại từ Mexico: “Chúng tôi là lãnh sự Argentina tại Mexico, có đôi vợ chống tự xưng là luật sư Garalder hiện đang được chúng tôi bảo hộ, xin hỏi ông bà có biết họ không?”. Đang nói ở đầu dây bên kia là người lạ. Người nhà của Garalder yêu cầu cho gặp trực tiếp vợ chồng tiến sĩ Garalder. Tiến sĩ Garalder đã cầm máy và người nhà lập tức nhận ra giọng của ông. Như vậy có thể khẳng định ngày 3/6/1968 họ đang có mặt tại Mexico…

Hai vợ chồng tiến sĩ không lâu sau đó được đưa trở lại Argentina. Trong câu chuyện họ kể lại sau này có một cái gì đó rất huyền bí khó hiểu. Khi chiếc xe của 2 người vừa rời khỏi Buenos Aires không lâu, khoảng 12h10 [cụ thể là 0h10 sáng] ngày 2/6 đột nhiên trước xe xuất hiện một hình quả cầu được bao bọc bởi một lớp sương mù dày đặc, trong chốc lát chúng đã vây chặt lấy chiếc xe. Họ hoảng hốt đạp cửa xe nhảy ra, nhưng nhanh chóng rơi vào tình trạng mất cảm giác.

Khi 2 người tỉnh dậy thì lúc đó đã là ban ngày, trên đường xe cộ đã chạy nườm nượp. Nhưng họ cũng nhanh chóng nhận thấy đây không phải là con đường từ Buenos Aires đến thành phố Chascomus. Họ dừng xe hỏi thăm và được biết đây là Mexico. Họ không phỏi ngạc nhiên và kinh hoàng – tất cả đường, kiến trúc đều nói lên đây chính là Mexico. Họ nhanh chóng đến lãnh sự quán Argentina để yêu cầu giúp đỡ. Sau này họ mới để ý, chiếc đồng hồ họ đeo trên tay khi họ bị mất cảm giác đang chỉ 12h10 thì dừng lại, nhưng khi vào lãnh sự quán thì nó đã là ngày 3/6.

Nếu tính khoảng cách đường chim bay từ Chascomus – Argentina đến Mexico là trên 6000km, do vậy việc dùng thuyền bè, ô tô hay tàu hỏa để đến đây là một điều không thể, mà với khoảng cách này chỉ có thể đi bằng máy bay, nhưng lúc đó cả người và xe đều xuất hiện cùng lúc ở Mexico. Rõ ràng đây là một điều không tự nhiên. Lãnh sự quán Argentina tại Mexico đã chứng thực chuyện này hoàn toàn có thực.

Khi đó, trên một tờ báo địa phương có bài viết với tiêu đề: “Teleporation from Chascomus to Mexico” nói về chuyện này đã viết: “Từ “Teleporation” không thể tìm thấy trong bất kì cuốn từ điển phổ thông nào, nó khác với từ mang ý nghĩa vận chuyển ”Transportation”, vì nó là một từ vựng chỉ sự liên quan mật thiết với sự kiện này. Nếu ta dùng tiền tố “Trans -” để thay thế, sẽ cho người đọc cảm giác của sự dịch chuyển, vận chuyển, nhưng ở đây họ dùng từ “Tele-” để biểu đạt cái gì đó siêu tự nhiên, bị một sức mạnh vô hình nào đó thao túng, khiến cho ta không thể dùng những khái niệm khoa học thông thường giải thích. Và đến nay, hiện tượng này vẫn chưa được giải thích một cách chính xác và khoa học.

Nguồn: http://bit.ly/1Ix5rcb

Lời bình:

Thế gian này quả là còn rất nhiều bí ẩn khiến khoa học bối rối và khiến chủ nghĩa vô thần phải cứng họng. Có những thứ chúng ta không nhìn thấy được nhưng nó vẫn tồn tại và gây ra những ảnh hưởng đáng kể đến thế giới này. Chủ nghĩa vô thần cho rằng cứ cái gì nhìn không thấy, sờ không được, không cảm nhận được bằng 5 giác quan thì nó không tồn tại. Nhưng trên thực tế có những sự vật không nhìn thấy và cũng không thể sờ thấy, không cảm nhận được bằng 5 giác quan, thế mà nó vẫn tồn tại. Chẳng hạn như: lỗ hổng thời gian, vật chất tối,… Vật chất tối là 1 loại vật chất bí ẩn, không có cấu tạo nguyên tử, không tuân theo các định luật vật lý, nó hoàn toàn trong suốt đến nỗi không hấp thụ và phản xạ ánh sáng, không phát ra ánh sáng, cứ như là ma vậy, nhìn không thấy, và có sờ cũng không cảm nhận được. Mặc dù nó vô hình như ma nhưng nó vẫn phản ánh lực tương tác đến không gian này, nên người ta phát hiện ra nó là nhờ những trường lực mà nó gây ra cho vật chất thông thường. Sự tồn tại của linh hồn cũng không phải là mê tín, nó đã được vật lý lượng tử chứng minh là có tồn tại. Đối với vật lý lượng tử thì không có gì là mê tín cả, và cũng chả có cái gì là ”phản khoa học”. Xin vui lòng đọc bài viết ”Sự Bất Tử Của Linh Hồn Được Các Nhà Khoa Học Chứng Minh Bằng Cơ Học Lượng Tử” tại http://goo.gl/9qxV8Y

Ngoài ra, còn 1 thứ mà không thể cảm nhận được bằng 5 giác quan, nhưng nó vẫn tồn tại, đó là não của chính mình, bản thân chúng ta không thể thấy được não của chính mình, chỉ có người khác mổ não bạn ra thì họ mới thấy và nói cho bạn biết là bạn có não, còn tin hay không thì tùy ở bạn, nếu bạn cứ giữ khư khư quan điểm thô thiển của chủ nghĩa vô thần rằng ”không thấy thì không tồn tại”, thì tức là bạn đã tự công nhận rằng bạn không có não.

Trong 1 cuộc hội thoại giữa vị giáo sư vô thần và Anhxtanh (lúc đó còn là sinh viên và tin rằng Chúa tồn tại), có 1 đoạn như sau:

”Giáo sư: Cậu có bao giờ chạm vào Chúa, nếm được Chúa, ngửi được Chúa chưa? Cậu có bao giờ có bất cứ cảm nhận giác quan một cách thực tế về Chúa chưa?

Anhxtanh: Chưa, thưa Giáo sư. Em e là chưa.

Giáo sư: Thế mà cậu vẫn tin vào Chúa?

Anhxtanh: Vâng.

Giáo sư: Xét theo Nguyên tắc Thực Nghiệm và Chứng Minh, khoa học cho thấy Chúa không tồn tại? Cậu có gì muốn nói nào?”

(Nguồn: http://tientri.net/khoa-hoc-va-vu-tru/niem-tin/)

Cuối cùng cậu sinh viên Anhxtanh đã đáp lại như sau: 

”Anhxtanh: Cho tôi hỏi, trong phòng này có ai từng thấy được não của Giáo sư?
(Cả giảng đường phá lên cười.)

Anhxtanh: Có ai nghe được não của Giáo sư chưa? Có ai sờ được, cảm nhận được hay ngửi được nó chưa? Xem ra là chả có ai. Vậy, theo Nguyên tắc Thực Nghiệm và Chứng Minh, khoa học có thể nói rằng Giáo sư không có não. Em không có ý xúc phạm, nhưng xin hỏi bây giờ thì làm sao chúng em có thể tin vào những bài giảng của Giáo Sư nữa?

(Mọi người im lặng. Vị giáo sư nhìn thằng vào cậu sinh viên với một vẻ mặt khó ai hiểu được.)

Giáo sư: Chắc có lẽ là cậu phải nghe tôi vì cậu tin vào lời tôi thôi.

Anhxtanh: Đấy thưa Giáo sư… Chính xác! Mối liên kết giữa Con Người và CHÚA chính là NIỀM TIN đấy. Và chính nhờ NIỀM TIN mà tất cả vạn vật trong vũ trụ này đều có thể tồn tại và chuyển động.”

(Và chính nhờ NIỀM TIN nên chúng ta mới tin rằng bản thân mình có não)

Quay trở lại vấn đề lỗ hổng thời gian, lỗ hổng thời gian hẳn là 1 thực thể kì lạ, không giống như những vật chất nguyên tử mà chúng ta biết. Vậy phải chăng lỗ hổng thời gian được cấu tạo từ những thành phần không phải là của nguyên tử, và tồn tại ở 1 chiều không gian cao hơn? Mình sẽ dựa trên sự liên kết những kiến thức khoa học đã biết để giả thiết về cơ chế hoạt động của lỗ hổng thời gian. Nhưng trước khi đến với phần d (giả thiết về cơ chế hoạt động của lỗ hổng thời gian), thì trước tiên các bạn cần đọc phần b và phần c sau đây:

b. Trước đây chúng ta vẫn thường tưởng rằng mọi vật chất đều được cấu tạo từ nguyên tử, hoặc là từ 1 phần của nó (chẳng hạn như ion, proton, electron, notron). Nhưng theo quan sát thiên văn và vũ trụ gần đây nhất thì chỉ có 1 phần nhỏ vật chất trong vũ trụ có cấu tạo như vậy, còn lại đa số là những loại vật chất không có cấu tạo như vậy, ở đây mình gọi chung là những ”vật chất phi nguyên tử”. Những vật chất phi nguyên tử vẫn chưa được khám phá hết, chúng vẫn còn là bí ẩn đối với nhân loại. Những định lý khoa học, công thức vật lý,… mà chúng ta đã biết chỉ đúng với vật chất nguyên tử và photon, chứ chưa chắc đã đúng với vật chất phi nguyên tử và năng lượng tối. Một số loại vật chất phi nguyên tử được tìm thấy trong thực tế: Vật chất tối, Muyon, Tauon, Boson, Higgs, Ghost, Delta, Lambda, Sigma, Xi, Cascade, Nguyên tử lạ (Positronium · Muonium · Onia), Omega, Meson,… Những loại vật chất phi nguyên tử được tìm thấy trên lý thuyết: Whomhole (lỗ sâu), Tachyon, Axion, Glueball, Meson lạ, Pomeron,… Những vật chất phi nguyên tử không cần phải tuân theo những định lý định luật của con người, chúng có thể ”phản khoa học”, có thể ”mê tín”. Vậy nên nếu cứ máy móc áp dụng những công thức vật lý vào các vật chất phi nguyên tử thì có thể sẽ sai, và đây chính là sự bế tắc trong khoa học cổ điển ngay nay. Ví dụ theo như công thức tính trọng lực (P=m.g) thì những vật chất có khối lượng đều phải chịu tác động của trọng lực. Nhưng trên thực tế vật chất tối tuy có khối lượng nhưng nó không bị ước chế bởi trọng lực. Công thức P = m.g chỉ áp dụng cho vật chất nguyên tử và photon, chứ chưa chắc đã đúng với những loại khác, và các công thức khác cũng vậy. Nói chung là cho dù các vật chất phi nguyên tử vi phạm các định luật vật lý thì điều đó cũng chẳng có gì là vô lý cả, kể cả việc một vật chất phi nguyên tử có khối lượng nghỉ dương chuyển động nhanh như hoặc nhanh hơn ánh sáng, thì đó cũng là điều bình thường. Vậy nên các nhà vật lý học cứ yên tâm nhé! Cho dù các vật chất phi nguyên tử có làm nên những điều vi phạm các định luật vật lý, thì cũng không cần phải đánh đổ nền vật lý hiện tại để xây lại từ đầu đâu. Còn các nhà nghiên cứu sinh học nữa, khi thấy sinh vật (đặc biệt là con người) có thể làm được những điều mà khoa học vô thần cho là không thể (ví dụ thiên mục, tiên tri, thần giao cách cảm, công năng dao thị, trường sinh bất lão, không ăn uống trong nhiều năm,…), thì hãy nghĩ đến vật chất phi nguyên tử.

Thế gian này quả là bí ẩn. Ngoài “vật chất sáng” (vật chất nguyên tử), còn có vật chất tối (tên thật là “vật chất vô hình”). Ngoài “năng lượng sáng” (năng lượng photon), còn có năng lượng tối bí ẩn.

Vật chất tối có nhiều điểm giống ma, chẳng hạn như: không nhìn thấy, không sờ được, trong suốt đến nỗi không hề phản xạ và hấp thụ ánh sáng, nó cho toàn bộ ánh sáng đi qua, các nhà khoa học phát hiện ra nó là nhờ những lực tương tác mà nó gây ra cho vật chất nguyên tử.

Vậy liệu vật chất tối có linh tính và sự sống hay không? Các khám phá khoa học, bản thân nó không thể phủ nhận sự tồn tại của các sinh mệnh cấp cao. Nếu các nhà khoa học có thể phát hiện các sinh mệnh cao cấp, cao tầng tới mức có thể tạo ra nhân loại, thì chẳng phải có nghĩa Thần đã được tìm thấy?

Einstein đã nói, khối lượng và năng lượng có sự liên hệ mật thiết với nhau. Bạn có thể biến khối lượng thành năng lượng và chuyển năng lượng thành khối lượng. Công thức E= m.c2 cho thấy nếu chúng ta có 1 E năng lượng thì có thể chuyển thành c2 khối lượng m, và nếu chúng ta có c2 khối lượng m thì có thể chuyển thành 1 năng lượng E. Mà khối lượng là thước đo về lượng vật chất chứa trong vật thể. Do đó vật chất có thể chuyển thành năng lượng và ngược lại, năng lượng cũng có thể chuyển thành vật chất. Như vậy sự tồn tại của đấng sáng thế không phải là điều vô lý, mà thậm chí còn phù hợp với khoa học, cụ thể ở đây là hù hợp với quan điểm của Anhxtanh. Thần có thể biến năng lượng thành vật chất, và ngược lại, có thể làm vật chất biến mất bằng cách biến nó thành năng lượng, khi cần thì biến nó trở lại thành vật chất. Con người và máy móc có thể đi xuyên tường bằng cách dùng công năng hoặc kỹ thuật siêu hiện đại nào đó biến mình thành năng lượng, đi xuyên tường, rồi biến trở lại như cũ.

Vậy tại sao đa số chúng ta không nhìn thấy sự tồn tại của Thần? Đó là vì Thần tồn tại ở chiều không gian khác cao hơn không gian 3D của chúng ta. Hãy tưởng tượng loài kiến đang sống trong thế giới 3D (gồm 3 chiều không gian là chiều dài, chiều rộng, chiều cao và 1 chiều thời gian), nhưng chúng vẫn cảm thấy rằng thế giới của chúng là 2D (chỉ gồm 2 chiều không gian là chiều dài, chiều rộng và 1 chiều thời gian, chúng cho rằng thế giới của chúng là mặt phẳng, mặc dù trên thực tế thế giới của chúng không hề phẳng, chúng không biết đến sự tồn tại của chiều không gian thứ 3 là chiều cao). Con người hằng ngày vẫn quan sát loài kiến, thậm chí tác động lên thế giới loài kiến, nhưng loài kiến vẫn không biết đến sự tồn tại của con người, thế nên chusg không giải thích được những bí ẩn đang diễn ra trong thế giới của chúng. Khi 1 người nhấc 1 con kiến lên và đặt nó vào nơi khác hoặc để lại vào chỗ cũ, khi đó những con kiến khác sẽ cho rằng con kiến kia đột nhiên biến mất rồi xuất hiện một cách thần bí, còn con kiến kia thì cho rằng nó đã tiến nhập vào chiều không gian khác, 1 chiều không gian cao hơn ngoài sức tưởng tượng của nó. Khi ta bỏ 1 vật vào chỗ bọn kiến, hoặc lấy đi 1 vật của bọn kiến, hoặc làm 1 vật nào đó lung lay, khi đó bọn kiến sẽ nghĩ rằng dường như có 1 thế lực vô hình nào đó đã làm cho 1 vật đột nhiên xuất hiện hoặc làm cho 1 vật biến mất hoặc làm cho 1 vật lung lay một cách bí ẩn. Loài kiến không biết được sự tồn tại của con người. Chỉ có những con kiến ”giác ngộ” hoặc ”có duyên” mới nhìn thấy sự tồn tại của con người, chúng thấy con người tồn tại ở chiều không gian cao hơn, ngoài chiều rộng và chiều dài, đó là chiều không gian thứ 3. Khi đó chúng sẽ cảm thấy con người thật cao lớn, có thể tạo ra tờ giấy, tạo ra cái nhà, tạo ra khách sạn, tạo ra tất cả,… , có thể làm nên những điều mà nhiều con kiến cho là không thể, là phản khoa học, là mê tín,…

Tương tự như vậy, hãy tưởng tượng loài người chúng ta đang sống trong thế giới 4D hoặc cao hơn, nhưng chúng ta vẫn tưởng rằng thế giới của chúng ta là 3D, và không biết đến sự tồn tại của các chiều không gian cao hơn 3D (hay còn gọi là không gian đa chiều). Thần hằng ngày vẫn quan sát loài người, thậm chí tác động lên thế giới con người, nhưng người thường vẫn không biết đến sự tồn tại của Thần, thế nên mới người thường mới không giải thích được những bí ẩn đang diễn ra trong thế giới này. Khi 1vị Thần nhấc 1 người lên và đặt nó vào nơi khác hoặc để lại vào chỗ cũ, khi đó những người khác sẽ cho rằng người kia đột nhiên biến mất rồi xuất hiện một cách thần bí, còn người kia thì cho rằng bản thân mình đã tiến nhập vào chiều không gian khác, 1 chiều không gian cao hơn ngoài sức tưởng tượng của con người. Khi Thần bỏ 1 vật vào chỗ con người, hoặc lấy đi 1 vật ở thế giới con người, hoặc làm lung lay một vật nào đó, khi đó người chứng kiến sẽ nghĩ rằng dường như có 1 thế lực vô hình nào đó đã làm cho 1 vật đột nhiên xuất hiện hoặc làm cho 1 vật biến mất hoặc làm cho 1 vật lung lay một cách khó hiểu. Người thường không biết được sự tồn tại của Thần. Chỉ có những người giác ngộ hoặc có duyên mới nhìn thấy sự tồn tại của Thần, họ biết Thần tồn tại ở chiều không gian cao hơn, ngoài chiều rộng, chiều dài và chiều cao, đó là chiều không gian thứ 4 hoặc cao hơn. Người xưa nói ”trên đầu 3 thước có Thần linh” quả không sai, Thần vẫn hằng ngày quan sát con người mà con người không hay biết. Những người biết đến sự tồn tại của Thần thì cảm thấy Thần thật cao lớn, có thể tạo ra mọi vật, tạo ra trái đất, tạo ra tất cả,… , có thể làm nên những điều mà nhiều người cho là không thể, là phản khoa học, là mê tín,… Tuy nhiên Thần ít khi can thiệp vào thế giới con người, vì nếu không cẩn thận thì có thể vô tình làm hại đến chúng sinh, do đó việc cứu giúp con người khó hơn chúng ta tưởng, cũng như nếu con người bước vào thế giới của kiến hoặc chạm vào kiến thì có thể sẽ vô tình làm chết kiến vậy. Thế nên ”Đừng đòi hỏi quá nhiều ở Thần, vì họ đã cố gắng rất nhiều. Khi bạn gặp những thống khổ hay đau thương mất mát trong cuộc sống, đừng đổ lỗi lên đầu các vị Thần, mà hãy cảm ơn họ thay vì oán trách họ, vì họ đã rất cố gắng. Nếu không có họ thì bạn sẽ còn khổ hơn thế nhiều.”

Xem thêm:
https://m.facebook.com/photo.php?fbid=738618442931259&set=o.151327211684964&type=3&theater

Nếu con người tu luyện chân chính đến 1 trạng thái nào đó thì có thể đạt được một số khả năng của Thần, chẳng hạn như có thể tự tiến nhập vào không gian khác mà không cần phải nhờ đến Thần nhấc lên; cao hơn nữa thì có thể thoát khỏi luân hồi, tức là sau này nếu chết đi thì linh hồn sẽ được tự do về với thế giới Thiên đường của chính mình, không còn bị bắt đi luân hồi chịu khổ nữa.
http://goo.gl/O55yZw
http://bit.ly/1ITG06F

Lỗ hổng thời gian cũng nằm ở chiều không gian thứ 4 hoặc cao hơn. Thế nên chúng ta mới không nhìn thấy nó. Nó có thể nhấc 1 người hoặc 1 vật khỏi không gian 3D này, rồi trả lại vào 1 thời điểm nào đó trong tương lai. Trong nhiều trường hợp, có thể lỗ hổng thời gian sẽ gây mê ”nạn nhân” trước khi đưa đi để tránh sự hoảng loạn. Qua những trường hợp được cho là do lỗ hổng thời gian gây nên, chúng ta có thể suy ra rằng lỗ hổng thời gian vừa có lợi vừa có hại, vì có lúc nó cứu người, có lúc nó trêu người.

Vật chất có thể thoát khỏi hố đen bằng cách tiến nhập vào không gian khác. Trong thế giới lượng tử, các hạt vi mô có thể thoát khỏi hố đen nhờ ”hiệu ứng đường hầm lượng tử”. Vậy nên quan niệm ”không vật chất nào có thể thoát khỏi hố đen” bị bác bỏ.

c. Nikola Tesla đã từng nói, “khi mà khoa học bắt tay vào nghiên cứu các hiện tượng phi vật chất thì trong mười năm chúng ta sẽ thu được thành quả ngang với thành quả của cả 1 ngàn năm cộng lại. Để hiểu trọn vẹn bản chất của vũ trụ, chúng ta phải xét nó dưới góc độ năng lượng, tần số và dao động.”

Trước đây chúng ta tin vào lý thuyết của Newton về nền tảng của thực tại vật chất. Tuy nhiên điều này đã hoàn toàn thay đổi khi các nhà khoa học nhận ra rằng mọi thứ trong vũ trụ đều được cấu thành từ năng lượng. Vật lý lượng tử đã chứng minh rằng nguyên tử được tạo thành từ các năng lượng dạng xoáy liên tục xoay tròn và tạo xung động. Vật chất, ở mức độ nhỏ nhất mà con người có thể quan sát, chính là năng lượng, và ý thức con người được kết nối với nó, ý thức có thể ảnh hưởng đến trạng thái và cấu trúc của vật chất.

Nhận thức về việc vũ trụ không phải là một tập hợp của các bộ phận vật chất mà là một mạng lưới sóng năng lượng phi vật chất đã được rút ra từ các thí nghiệm của Albert Einstein, Max Planck và Werner Heisenberg cũng như nhiều nhà khoa học khác.

Vậy khi vật đứng yên thì tổng số năng lượng cấu thành nên vật là bao nhiêu? Công thức E=mc2 cho chúng ta biết câu trả lời. Khi vật đứng yên, năng lượng nội tại toàn phần E của vật ở trạng thái nghỉ này bằng tích khối lượng nghỉ của nó nhân với một hệ số là c2. Sự tương đương khối lượng-năng lượng cũng cho thấy cần phải phát biểu lại định luật bảo toàn khối lượng, hay hoàn chỉnh hơn đó là định luật bảo toàn năng lượng toàn phần.

Khối lượng là thước đo về lượng vật chất chứa trong vật thể.

Trong vật lý cổ điển người ta coi khối lượng của một vật là một đại lượng bất biến, không phụ thuộc vào chuyển động của vật. Tuy nhiên đến vật lý hiện đại, khi thuyết tương đối của Anhxtanh xuất hiện, người ta lại có cách nhìn khác về khối lượng, khối lượng có thể thay đổi tùy theo hệ quy chiếu.

Theo như phương trình thuyết tương đối hẹp nổi tiếng của Einstein, E = m.c2, khối lượng và năng lượng, về bản chất, đều có cùng chung một dạng thực thể, và có thể chuyển đổi lẫn nhau. (ở đây c được coi là 1 hệ số, có giá trị bằng tốc độ ánh sáng trong chân không). Theo hướng suy luận này, năng lượng E của một vật, có được do sự di chuyển của nó, sẽ làm tăng khối lượng m của chính nó. Nói cách khác, một vật di chuyển với [tốc độ] v càng nhanh thì khối lượng m của nó sẽ càng tăng, và sự gia tăng này chỉ có thể được nhận ra nếu nó di chuyển với một [tốc độ] v cực nhanh. Cụ thể là: m = m0 / √(1 – v2/c2)

(Từ phương trình E=mc2 của Anhxtanh, người ta đã dùng phép biến đổi Lorentz để suy ra công thức trên, nên công thức trên cũng được coi là nằm trong thuyết tương đối hẹp của Anhxtanh)

Ví dụ: Nếu vật thể di chuyển với [tốc độ] v = 10% [tốc độ] ánh sáng, khối lượng m của nó sẽ tăng 0.5% so với bình thường. Nếu nó di chuyển với [tốc độ] v đạt 90% [tốc độ] ánh sáng, khối lượng m của nó sẽ tăng gấp đôi.

Theo quan điểm này thì khối lượng của 1 vật đang chuyển động bao gồm khối lượng nghỉ (có giá trị trùng với khối lượng khi vật thể đứng yên trong hệ quy chiếu đang xét), cộng với phần khối lượng do động năng của vật gây nên.

Khối lượng toàn phần lúc này, m, còn gọi là khối lượng tương đối tính, liên hệ với khối lượng nghỉ m0 qua công thức ấy:  m = m0 / √(1 – v2/c2)

Giả sử 1 vật chất nguyên tử di chuyển nhanh như ánh sáng, tức là v = c, thì m = m0 / 0 (trong trường hợp này m0 > 0 vì vật chất nguyên tử luôn có m0 > 0). Nhiều người cho rằng kết quả là 1 số vô hạn, tức là m = m0 / 0 = ∞. Từ đó họ cho rằng khi vật chất nguyên tử di chuyển với tốc độ ánh sáng, khối lượng của nó sẽ trở thành vô tận, và điều đó là không thể.

Thực ra họ đã sai rồi! Họ không biết phân biệt giữa phép tính giới hạn và phép tính thông thường. Ví dụ viết “lim(4/x) khi x→0 là ∞” thì đúng, nhưng viết “4/0 = ∞” thì là sai. Ta phải hiểu rằng “lim(4/x) khi x→0 ” = ∞ là do giới hạn của 4/x khi x dần đến 0 thì bằng ∞, chứ không phải là do 4/0 = ∞, điều này đã được dạy ở môn “Đại số và Giải tích 11”. Vậy là rõ ràng những người kia học dốt hoặc chưa học đến lớp 11 nên mới khẳng định chắc chắn rằng phép tính m0 / 0 kia có kết quả bằng ∞. Làm bài tập tính giới hạn mà cứ nhầm lẫn như họ thì chắc chắn sẽ mất điểm.

Tóm lại, phép tính m0 / 0 (với m0 > 0) thuộc loại phép tính vô định, không thể tính theo kiểu thông thường và càng không được tính theo kiểu giới hạn. Vì là phép tính vô định nên nó có thể cho ra nhiều kết quả khác nhau tuỳ từng hợp cụ thể, chứ chưa chắc đã là ∞. Bởi vậy kết quả của m0 / 0 còn có thể là số phức, hoặc 1 loại số nào khác mà con người chưa nghiên cứu ra.

Nói chung là thuyết tương đối hẹp của Anhxtanh không hề khẳng định rằng vật chất không thể chuyển động nhanh như ánh sáng. Bản thân Anhxtanh cũng không khẳng định điều đó, chẳng qua là người đời sau suy diễn ra rồi tự ý phán là “thuyết tương đối hẹp của Anhxtanh chứng minh không vật chất nào có thể chuyển động nhanh như ánh sáng”. Công thức m = m0 / √(1 – v2/c2) là hi vọng duy nhất để nhiều người chứng minh rằng vật chất nguyên tử không thể chuyển động nhanh như ánh sáng, nhưng rốt cục thì nó vẫn không đủ cơ sở để chứng minh điều đó. Như vậy, việc vật chất nguyên tử có thể chuyển động nhanh như ánh sáng không phải là điều phản khoa học.

Phép tính 0/0 cũng là phép tính vô định. Kết quả của nó không phải là bằng 0 như nhiều người vẫn tưởng. Thực tế kết quả của 0/0 là 1 số thực bất kì tuỳ từng trường hợp cụ thể. Ví dụ photon có v = c, m0 = 0 thì m = 0/0, mà E=mc2 và E của photon > 0 nên m > 0, biết được giá trị của E thì sẽ tính được m.

Ngoài ra, nếu để ý kĩ thì có thể các bạn sẽ thấy rằng thuyết tương đối hẹp của Anhxtanh ủng hộ rằng có thể chuyển động nhanh hơn ánh sáng. Cụ thể là ở công thức m = m0 / √(1 – v2/c2), khi v>c thì biểu thức trong dấu căn là âm, suy ra kết quả sẽ là số phức. Theo lý thuyết dây, Tachyon thường xuất hiện trong phổ của các dao động khả dĩ. Trong phổ này, xuất hiện một vài trạng thái có bình phương khối lượng là một số âm, tức khối lượng là 1 số phức. Theo http://bit.ly/1LIIiLx thì ”điều này lại mở ra một khả năng về sự tồn tại thực sự của các chiều dư. Một tương tự đơn giản, sự thống nhất không gian và thời gian buộc Einstein phải mang vào thành phần thời gian một thành phần phức.”.

Từ phương trình E=mc2, người ta còn suy ra công thức: ∆t’ = ∆t.√(1 – v2/c2) 

Theo đó, giả sử 1 hệ vật chuyển động với tốc độ v, chúng ta đứng ở ngoài hệ vật đó và thấy nó chuyển động trong khoảng thời gian là ∆t, thì thực chất bản thân hệ vật đó chỉ trải qua một khoảng thời gian là ∆t’.

Với v<c, nếu v càng lớn thì thời gian của vật chuyển động trôi càng chậm.

Còn khi v>c thì ∆t’ là số phức, khi đó vấn đề sẽ trở nên phức tạp hơn nhiều.

Số phức quả là hữu dụng khi nghiên cứu những lý thuyết về v>c. Anhxtanh là 1 thiên tài, phải chăng ông cũng đã tính đến trường hợp v>c?

d. Giả thiết về cơ chế hoạt động của lỗ hổng thời gian.
Sau đây là 2 giả thiết của mình về nguyên lý hoạt động của lỗ hổng thời gian, dựa trên sự liên kết những kiến thức khoa học đã biết.

Giả thiết thứ nhất là lỗ hổng thời gian nhấc vật thể (máy bay, khinh khí cầu, người,…) khỏi không gian 3 chiều này, rồi đưa vật thể đi với tốc độ ánh sáng, khi đó thời gian của vật thể ấy sẽ bị ngưng đọng. Theo như công thức ∆t’ = ∆t.√(1 – v2/c2), khi v=c thì ∆t’=0, tức là thời gian của vật bị ngưng lại. Nhưng vì lỗ hổng thời gian là vật chất phi nguyên tử, nó không bị ước chế bởi công thức ∆t’ = ∆t.√(1 – v2/c2), nên chỉ có thời gian của vật thể kia bị ngưng lại, còn lỗ hổng thời gian thì vẫn hoạt động như thường, vẫn tiếp tục đưa vật thể chuyển động với tốc độ ánh sáng. Sau một thời gian nhất định, lỗ hổng thời gian sẽ trả lại vật thể về thế giới 3D của nó, có thể là đặt lại chỗ cũ hoặc là đặt vào 1 địa điểm khác.

Giả thuyết thứ 2 là lỗ hổng thời gian đã nhấc vật thể ra khỏi thế giới này và đưa thẳng vật thể đến 1 thời gian khác của thế giới này. Cụ thể là ở đây ta coi thời gian cũng là 1 chiều không gian, mà đã là không gian thì vật có thể đi đến bất cứ nơi nào trong không gian đó.

 Giả sử ngày mai là ngày 1. Bình thường chúng ta phải đợi từng ngày một theo đúng thứ tự rồi mới đến ngày 10. Nhưng nếu ta coi 10 ngày tiếp theo giống như 1 dãy số từ 1 đến 10 thì sẽ khác, vì không thể nói phải có số 1 rồi mới được có số 2. Cả 10 số đó đều đồng thời tồn tại và như vậy ta có thể đến luôn ngày 9 hay ngày 10 mà không cần phải đợi qua ngày 1, ngày 2,…

Tuy nhiên cần lưu ý rằng một khi đã đến tương lai thì gần như không có cơ hội để trở về quá khứ, vì vấn đề trở về quá khứ khá là rắc rối. Trở về quá khứ là điều có thể và có thật, nhưng chỉ có thể trở về quá khứ của thế giới song song giống thế giới này, hoặc là bị đưa đến quá khứ của thế giới này nếu như việc đó không ảnh hưởng đến nghịch lý nhân quả; còn vấn đề tua ngược thời gian thì không phải là điều mà con người có thể làm. Vậy nên một khi đã bị lỗ hổng thời gian cuốn đến tương lai thì coi như không có cơ hội trở về thời gian địa điểm lúc bị cuốn đi. 

3. Trở về quá khứ thực sự là điều có thể. Ví dụ như có những cách sau, không vi phạm định lý hay quy luật nào cả:

Có thể cố ý trở về quá khứ bằng cách đến thế giới song song giống thế giới này, hoặc đi đến 1 vũ trụ song song mà hiện tại nơi đó giống quá khứ nơi này. Theo đó, quá khứ mà bạn cố ý đến, nó chỉ tồn tại ở một không gian song song với nơi bạn đang sinh sống, những hành động can thiệp vào quá khứ sẽ không làm thay đổi hiện tại của bạn.

Hoặc là bạn vẫn có thể cố ý đến được quá khứ của thế giới này, nhưng sự thay đổi diễn ra trong quá khứ đó sẽ tạo ra 1 thế giới khác.

Bị ‘hút’ về quá khứ một cách không mong muốn, và ko trở về đc, có lẽ đây là sự sắp đặt của tự nhiên hoặc đấng tối cao nào đó.

Mình nhớ mang máng rằng có 2 anh đang thăm quan 1 khu mộ, rồi bỗng 1 anh ko thấy anh kia đâu, tìm hoài ko thấy. Rồi ở đó anh tình cờ phát hiện ra dòng chữ rằng bạn anh đang ở quá khứ ko trở về đc. Dòng chữ này khi được đoo niên đại thì cho kết quả là khoảng 100 năm.

..v..v..

Trong lịch sử đã từng xảy ra những trường hợp bị đưa đến quá khứ một cách không mong muốn rồi được đưa trở lại hiện tại, theo như mình nghĩ thì không phải do lỗ hổng thời gian gây ra, mà là do 1 thế lực vô hình nào khác. Có thể là người đó đến quá khứ của thế giới song song giống thế giới này, hoặc là theo kiểu nào khác giống như mình đã trình bày ở phần a. Xem bài viết tại đây: 
https://mbasic.facebook.com/dangtranduy1234321/albums/449957281821954/?op=10&v&refid=18
.
Ngoài ra còn có trường hợp kì lạ xảy ra ở hiện tại, đó là một người được cho là đến từ tương lai và đã cố ý trở về quá khứ. Xem bài viết tại đây:
https://m.facebook.com/photo.php?fbid=625531484239956
.
Bức ảnh nổi tiếng được chụp từ thời chưa có photoshop, chưa có điện thoại di động, nhưng trong đó có hình ảnh 1 người dùng điện thoại di động:
https://m.facebook.com/photo.php?fbid=625531344239970

https://m.facebook.com/photo.php?fbid=625531457573292
.
Bài đăng ”Đức quốc xã từng nghiên cứu chế tạo cỗ máy thời gian”:
https://m.facebook.com/photo.php?fbid=702410389885398

Đặng Trần Duy tổng hợp

Loading...