Phát minh khó tin thời tiền sử (Phần cuối)

118

Phát minh khó tin thời tiền sử (Phần cuối)

Pin Baghdad

Những đồ tạo tác lạ ban đầu này được phát hiện vào năm 1936 trong một cuộc khảo cổ tại làng Khuyut Rabbou’a, khoảng 20 dặm về phía đông nam trung tâm thành phố Baghdad hiện đại và gần Cổng Ctesiphon. Chúng được mô tả với chiều cao từ 13 – 14cm, cắm sâu vào trong là một xi lanh bằng đồng cùng một que sắt treo lơ lửng phía bên trong.

Vào tháng 12 năm 1939, ngay sau khi Thế Chiến II nổ ra, một nhà khảo cổ học người Đức tên là Wilhelm Konig đã bắt gặp đồ vật này trong tầng hầm của Bảo tàng Quốc gia Iraq. Ông ngay lập tức nhận thấy chúng nhìn tương tự pin điện và đăng một bài báo cho rằng các thiết bị điện cổ xưa có thể đã được sử dụng để mạ vàng quý hiếm lên bạc.

Hình mô phỏng pin Baghdad được phát hiện vào năm 1936 tại Iraq.
Hình mô phỏng pin Baghdad được phát hiện vào năm 1936 tại Iraq.

Người ta cho là nó thuộc sở hữu của Bảo tàng Baghdad.

Đó là khoảng thời gian mà Adolf Hitler bắt đầu tiến hành một chương trình nghiêm túc, khá kỳ dị để nghiên cứu công nghệ của người cổ xưa. Những bộ phim hiện đại như “Raiders of the Lost Ark” dựa trên thực tế ít người biết đến này. Không có lời giải thích dễ dàng cho sự tồn tại cũng như mục đích sử dụng của pin Baghdad và đương nhiên điều này đã gây tranh cãi, bàn luận và bất đồng trong cộng đồng khoa học. Việc tái hiện thiết bị này đã chứng minh rằng nó có thể tạo ra một dòng điện từ 0,4 đến 1,9 volt. Một số nhà khoa học vẫn hoài nghi về công bố này và cho rằng mô hình tái tạo là không chính xác. (Đó là những nhà khoa học ưa tranh luận. Xét về mặt khoa học, nó cũng giống như bạn tranh luận với giáo viên lịch sử để đảm bảo rằng tất cả mọi người nhận ra sự hiện diện của mình trong lớp.)

Tạo tác Coso

Vào năm 1961, 3 nhà sưu tầm đá là Wallace Lane, Virginia Maxey và Mike Mikesell trong lúc săn tìm pha lê gần thị trấn Olancha ở bang California đã phát hiện ra một mẫu vật mà sau đó gây ra cuộc tranh cãi kéo dài hơn năm thập kỷ. Trong khi cắt hốc tinh, thay vì đó là lớp tinh thể thông thường, họ phát hiện một chiếc xi lanh gốm trắng có lõi sắt ở giữa được bao quanh bởi một lớp sắt và đá rỉ màu. Vật liệu bao quanh hình lục giác đã xỉn màu có thể quan sát được bằng mắt thường. Theo bà Maxey, một nhà địa chất giàu kinh nghiệm sau khi kiểm tra tạo tác này đã cho rằng, vật liệu xung quanh chiếc xi lanh có niên đại ít nhất 500.000 năm.

Công nghệ những năm 1920 tồn tại dưới dạng một chiếc bugi bọc trong loại đá pha lê 500.000 tuổi. Đó là tạo tác Coso - bí ẩn hay một sự nhầm lẫn?
Công nghệ những năm 1920 tồn tại dưới dạng một chiếc bugi bọc trong loại đá pha lê 500.000 tuổi. Đó là tạo tác Coso – bí ẩn hay một sự nhầm lẫn?

X-quang của tạo tác Coso tiết lộ thêm về các thành phần kim loại mà một số chuyên gia độc lập đã xác định là các bộ phận của một bugi hoặc vật gì đó tương tự có ở những năm 1920. Nếu vật này thực sự là một “Tạo tác cổ xưa” thì nó hoàn toàn làm xáo trộn hiểu biết của chúng ta về lịch sử.

Ngày nay, tạo tác Coso phần lớn mất uy tín vì ba lý do. Thứ nhất, vật thể sắt khi tiếp xúc với mưa và một loại đất cát hoặc đất sét sẽ nhanh chóng hình thành một lớp gỉ sắt rất giống sa thạch. Thứ hai, tạo tác đã biến mất. Tạo vật vẫn có thể thuộc sở hữu của một trong những người phát hiện ra nó còn sống cho đến giờ, tuy nhiên theo nhiều nguồn tin, họ không còn muốn bàn luận về vấn đề này. Thứ ba, danh tính của nhà địa chất kết luận về niên đại của tạo tác Coso không bao giờ được tiết lộ.

Vimanas

Đây có thể là phần quan trọng nhất trong số các phát minh này.

Nó đề cập đến tập hợp các ghi chép lịch sử từ Ấn Độ cổ đại mô tả hàng loạt máy móc và vũ khí biết bay vô cùng ấn tượng với tiêu chuẩn công nghệ thậm chí còn tiên tiến hơn so với máy móc thời nay.

Dẫn chiếu cổ xưa nhất về các loại máy này được tìm thấy trong các văn bản tiếng Phạn gọi là Veda và tồn tại từ khoảng năm 1,500 trước Công Nguyên. Một bản dịch hiện đại ghi rằng: “nhảy vào không gian nhanh chóng với một chiếc tàu bay sử dụng nước và lửa … có mười hai stamghas (trụ/cột), một bánh xe, ba bộ máy, 300 trụ và 60 dụng cụ.” Các văn bản Ramayana có đề cập đến các máy bay được sử dụng để phục vụ giai cấp thống trị.

Chiếc tem từ thời Liên Xô mô tả tham vọng khám phá không gian của cựu Liên bang này cùng với lời diễn giải của Vimana từ Ấn Độ cổ đại. Fins, nose cone detachable sections?
Chiếc tem từ thời Liên Xô mô tả tham vọng khám phá không gian của cựu Liên bang này cùng với lời diễn giải của Vimana từ Ấn Độ cổ đại. Fins, nose cone detachable sections?

Trong các văn bản Mahabharata có những mô tả về máy bay chiến đấu bắn tên lửa sử dụng âm thanh để tìm mục tiêu và các chùm ánh sáng nhằm tiêu diệt bất cứ thứ gì nó chạm phải. Độ tin cậy về những cỗ máy này dựa vào các Yavanas vốn được cho là người của nền văn minh Hy Lạp cổ đại.

Trong khoảng những năm 1950 người ta tìm thấy một văn bản hiện đại hơn. Với tên gọi Vaimanika Sastra (khoa học Hàng không), văn bản được coi là công việc đầy cảm hứng của Subbaraya Shastry, người tuyên bố nó dựa trên các tác phẩm của nhà hiền triết vĩ đại Bharadwaja, do đó tạo được tính xác thực cho các tuyên bố khoa học.

Bức tranh là một bản vẽ khái quát dựa trên các mô tả chữ viết trong văn bản. Tuy nhiên, nó cũng có thể định hình tốt như thế về khái niệm tên lửa Nga được trình bày trên con tem bên cạnh. Cũng cần lưu ý, có những tuyên bố rằng năm 1960 các nhà khoa học Nga rất quan tâm đến hiện tượng Vimana và kỳ lạ hơn, đó là khoảng thời gian mà họ đã đạt được bước tiến nhảy vọt lớn trong những thành tựu công nghệ.

Tuy nhiên, đó cũng có thể chỉ là một sự trùng hợp. Vimana không chỉ tồn tại ở Ấn Độ mà có nhiều bản khảo khắp nơi trên thế giới, bao gồm Saqqara Bird của Ai Cập, các mẫu máy bay bằng vàng của Columbia, truyền thuyết Icarus của Hy Lạp, Chariot của Ezekiel, đường băng Nazca, chạm khắc Abydos, tranh đá Tassili từ Algeria và nhiều tài liệu tham khảo của Trung Quốc về máy bay bằng gỗ Lu Ban bay được khoảng cách rất xa.

Đương nhiên, các sử gia hiện đại thường bác bỏ những tài liệu tham khảo này vì họ cho rằng đơn giản là không thể có thật, nhưng chắc chắn rằng con người lưu giữ tập hợp những ký ức về việc đã từng bay trong thời kỳ cổ đại. Liệu đây có phải là một trùng hợp ngẫu nhiên dựa trên những mơ tưởng trên toàn thế giới về các nền văn minh trong quá khứ hay là một hồi ức về khả năng thực sự đã xảy ra. Tùy vào quyết định của bạn.

Lửa Hy Lạp/Lửa biển

Lửa được ghi nhận đã sử dụng trong chiến tranh từ rất sớm và sau hàng ngàn năm con người hiện đại vẫn phụ thuộc vào sức mạnh của nó để phát triển lên các hình thức cao hơn như chất nổ, pháo, tên lửa, súng và cả súng phun lửa.

Tuy nhiên, đôi khi một vũ khí đã được phát triển từ rất xa trước đó và vượt qua khả năng quân sự của các lực lượng khác, đồng thời thay đổi cả tiến trình lịch sử. Lửa Hy Lạp hay Lửa Biển như cách thường gọi là một sự phát triển như vậy và nó trở thành vũ khí bí mật của Đế quốc Byzantine. Về cơ bản nó là một hỗn hợp hóa chất thể lỏng có thể được đốt cháy rồi phun lên tàu và quân của đối phương. Tác dụng của nó có tính chất tàn phá vì chất lỏng này không thể bị dập tắt bằng nước.

Một phần của bản thảo viết tay Skylitzes tại Thư viện Quốc gia Tây Ban Nha, Madrid, đã mô tả cách sử dụng của lửa Hy Lạp.
Một phần của bản thảo viết tay Skylitzes tại Thư viện Quốc gia Tây Ban Nha, Madrid, đã mô tả cách sử dụng của lửa Hy Lạp.

Trên thực tế, nó được cho là có khả năng đốt cháy dưới nước và bất kỳ nỗ lực để dập tắt chỉ làm lửa cháy dữ dội hơn. Ngọn lửa sẽ bám vào tất cả các vật thể và đốt cháy xác thịt của cơ thể một người trong vài giây, tương tự vũ khí phốt pho hiện đại ngày nay. Công thức đã được giữ bí mật đến nỗi không ai cho tới giờ biết cách làm ra nó và cũng không nhà khoa học nào có thể tái tạo lại Lửa Biển bằng cách sử dụng nguyên liệu sẵn có tại thời kỳ đó.

Phát minh này được cho là của Kỹ sư và kiến trúc sư người Syria Kallinikos khoảng năm 675-673 sau công nguyên, người đã chạy trốn khỏi Baalbek (Heliopolis) mà ngày nay là Lebanon. Một giả thiết khác về nguồn gốc phát minh là một thiên thần đã tiết lộ công thức cho Hoàng đế Constantine với thỏa thuận rằng nó sẽ là một bí mật vĩnh hằng của Thiên Chúa giáo. Một người đã từng thử tiết lộ bí mật của lửa đã bị trừng phạt bởi một tia sét từ trên trời. Bất kể nguồn gốc và việc sử dụng của Lửa Hy Lạp bắt nguồn từ đâu đi chăng nữa thì có một điều chắc chắn rằng nó đã cứu thành phố Constantinople khỏi cuộc chinh phạt của người Hồi giáo, đẩy lùi sự xâm lược mạnh mẽ của họ khỏi châu Âu. Nó chắc chắn được tìm ra tại một thời khắc quyết định, không thể may mắn hơn và nó đã cứu Đế quốc Byzantine. Sự trùng hợp này cần được nghiên cứu nhiều hơn nữa.

Đối với công thức, người ta tin nó chính là một dạng ban đầu của xăng dầu, naphtha, lưu huỳnh, ni tơ, Nitrat và các thành phần khác thậm chí có thể bao gồm cả phốt pho. Nhựa cũng được đề cập như là một thành phần có thể có trong đó và gần đây đã có những ý kiến cho rằng có thể bao gồm cả mạt sắt.

Cho đến khi những ghi nhận chính xác hơn được phát hiện thì việc nó đã được làm như thế nào sẽ vẫn là một bí ẩn và là một công nghệ đã mất của người xưa.

Biên dịch từ Aquizium
Loading...